 |
|
Cục trưởng NAFIQAVED Nguyễn Tử Cương |
Được sự cho phép của Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 24/12/2007 Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y Thủy sản đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý chất lượng và thú y thủy sản năm 2007 và kế hoạch trọng tâm năm 2008. Xem báo cáo chi tiết
Tham dự Hội nghị có 185 đại biểu, với có mặt của Thứ trưởng Lương Lê Phương, Thứ trưởng Nguyễn Việt Thắng, nguyên Thứ trưởng Nguyễn Thị Hồng Minh; đại diện các Cục, Vụ thuộc Bộ; các Vụ, Cục hữu quan thuộc Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế, Bộ Công An, Tổng Cục Hải quan; 18 Chi cục quản lý chất lượng và thú y thủy sản tỉnh/TP; Hiệp hội chế biến thủy sản (VASEP), Hội nghề cá, Hội Thuốc Thú y; một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thủy sản, sản xuất kinh doanh hàng hoá chuyên ngành thủy sản, chủ hộ nuôi tôm hùm; toàn thể cán bộ nhân viên cơ quan Cục và lãnh đạo các Trung tâm vùng thuộc Cục
Sau khi nghe Cục trình bày báo cáo tổng kết công tác năm 2007 và kế hoạch năm 2008, Hội nghị đã thảo luận và thống nhất một số nội dung chính như sau:
1. Năm 2007, Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y Thủy sản đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra. Đặc biệt đã giải quyết tốt một số nhiệm vụ trọng tâm:
a.Kịp thời giải quyết các rào cản TBT/SPS của những thị trường xuất khẩu quan trọng như Nhật Bản (về dư lượng kháng sinh), Nga (về kiểm soát DN xuất khẩu, nhập khẩu), Úc (về kiểm dịch thủy sản), Đài Loan (về kháng sinh trong cua sống)... Tiếp tục giữ vững 43/43 thị trường có yêu cầu cao về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, góp phần thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt gần 4,7 tỉ USD năm 2007.
b. Phòng Kiểm nghiệm của Cục được Hội nghị khu vực về xây dựng hệ thống phòng kiểm nghiệm kiểm chứng ASEAN (tháng 11/2007) vừa qua chỉ định làm phòng kiểm nghiệm kiểm chứng ASEAN về tảo độc và độc tố sinh học biển. Cơ quan thẩm quyền các nước Bruinei, Indonesia, Campuchia đã đề nghị cử người sang học, Thái Lan đề nghị sang trao đổi chuyên gia với Việt Nam. Điều đó cho thấy năng lực của các phòng kiểm nghiệm của Cục đã đạt trình độ cao và được các nước trong khu vực và quốc tế công nhận.
c. Giải quyết dứt điểm bệnh tôm hùm tại các tỉnh miền Trung. Sau hơn 2 tháng triển khai (từ 27/9/2007 đến 17/12/2007), Cục đã chủ trì, phối hợp với các Vụ, Viện thuộc Bộ và chuyên gia của OIE, hoàn thành báo cáo điều tra hiện trạng nuôi tôm hùm tại 5 tỉnh miền Trung, tìm ra tác nhân gây bệnh tôm hùm sữa, xây dựng thành công phác đồ điều trị bệnh và đã tổ chức đào tạo, phổ biến cho người nuôi về phòng trị bệnh tôm hùm sữa và thực hiện phát triển nuôi trồng bền vững. Ngày 18-19/12/2007, Bộ đã tổ Hội nghị nghiệm thu, đánh giá xuất sắc kết quả nghiên cứu của Tổ Công tác và đã tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động giải quyết bệnh dịch tôm hùm tại 05 tỉnh miền Trung.
d. Năng lực hoạt động của Cục (nhân lực, hệ thống tổ chức, đầu tư xây dựng, quản lý nội bộ…) được chú trọng củng cố và ngày càng đáp ứng hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác quản lý chất lượng và thú y thủy sản còn tồn tại những hạn chế. Hiệu quả kiểm soát các công đoạn trước chế biến chưa cao, tiến độ triển khai còn chậm. Năng lực các cơ quan địa phương còn hạn chế và sự quan tâm, đầu tư của chính quyền địa phương đối với công tác an toàn thực phẩm nói chung và an toàn thực phẩm thủy sản nói riêng chưa đúng mức, ngay cả ở các tỉnh trọng điểm nghề cá. Các văn bản quy phạm pháp luật, quy định kỹ thụât chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời, đáp ứng thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên sự phối hợp quản lý gắn kết các công đoạn còn chưa cao, các chế tài xử lý chưa thực sự hiệu quả.
2. Năm 2008, Cục cần nhanh chóng ổn định cơ chế tổ chức theo chức năng, nhiệm vụ mới; đảm bảo duy trì tốt công tác quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản tiêu thụ trong nước và giải quyết kịp thời các vướng mắc của thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh phòng trị dịch bệnh thủy sản đồng thời từng bước triển khai nhiệm vụ mới về quản lý chất lượng nông sản, lâm sản và muối. |